Những điều cần biết về căn bệnh ung thư vú
Theo báo cáo ghi nhận ung thư toàn cầu GLOBOCAN năm 2020, Việt Nam ghi nhận 21.555 ca mắc mới ung thư vú, chiếm tỷ lệ 25.8%, cao nhất trong tổng số ca mắc mới ung thư ở nữ giới. Ngoài ra cũng trong năm 2020, nước ta ghi nhận hơn 9.345 trường hợp tử vong vì căn bệnh này. Đây thực sự là con số đáng lo ngại, bởi ung thư vú là bệnh ung thư thường gặp nhất ở nữ giới, là mối quan tâm của rất nhiều chị em phụ nữ. Vậy, nguyên nhân gây bệnh ung thư vú là gì, triệu chứng biểu hiện của bệnh ra sao? Có những phương pháp nào điều trị ung thư vú, hãy cùng Nhà thuốc Thọ Xuân Đường đi tìm hiểu ngay nhé!

Những điều cần biết về căn bệnh ung thư vú
Ung thư vú là gì?
Ung thư vú là tình trạng tăng sinh bất thường của tế bào tuyến vú, bệnh xảy ra khi các đột biến gen hội tụ đủ các điều kiện đặc biệt để vượt qua được hệ thống kiểm soát miễn dịch của cơ thể, tế bào bất thường tuyến vú sẽ được sản sinh ra liên tục, từ đó mất kiểm soát và tạo thành khối u với rất nhiều tế bào bất thường. Những tế bào ác tính này có thể xâm lấn vào mạch máu, hạch bạch huyết lân cận và di chuyển đến những vị trí xa khối u ban đầu, tạo ra các khối di căn.
Ung thư vú có thể gặp ở cả nữ giới và nam giới. Tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh ung thư vú ở nam thấp hơn rất nhiều so với ở nữ và trung bình cứ có khoảng 100 ca được chẩn đoán mắc ung thư vú, thì chỉ có 1 ca xảy ra ở nam giới.
Nguyên nhân nào dẫn đến bệnh ung thư vú
Hiện nay, nguyên nhân chính xác gây bệnh ung thư vú vẫn chưa được xác định rõ ràng, do đó việc phòng ngừa bệnh còn nhiều khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu lâm sàng về bệnh ung thư vú cũng đã tìm ra được một số yếu tố nguy cơ gây bệnh như:
Yếu tố di truyền
Có khoảng gần 6% số ca mắc ung thư vú mang tính chất di truyền, và gần 50% gia đình có người mắc ung thư vú liên quan đến đột biến gen BRCA1. Khi nghiên cứu về đột biến gen gây ung thư vú BRCA1 của 50 phụ nữ, bao gồm 26 người khởi phát ung thư vú, 24 người không mắc ung thư vú nhưng trong gia đình có ít nhất một người là mẹ ruột, bà ruột, chị em ruột, các cô hay dì ruột bị ung thư vú.
Phụ nữ có kinh nguyệt sớm hoặc mãn kinh muộn
Nữ giới chịu tác động lâu dài từ nội tiết tố nữ estrogen có thể gây xúc tác làm các tế bào ung thư vú tấn công và gây bệnh. Hormone estrogen tác động lâu dài sẽ gắn vào các thụ thể estrogen (ER+) để nhận biết, sau đó chuyển tín hiệu tăng trưởng từ DNA đến các vùng khác, tạo điều kiện cho tế bào ung thư vú phát triển. Vậy nên, đối tượng có thể mắc ung thư vú cao thường là nữ giới tuổi dậy thì (< 12 tuổi) có kinh nguyệt đến sớm và nữ giới trong giai đoạn mãn kinh (>55 tuổi).
Vận động ít
Người không vận động hoặc vận động ít trong thời gian dài thường bị tăng sự đề kháng với Insulin, điều này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển các mô tế bào tuyến vú, từ đó làm tăng nguy cơ phát triển thành các tế bào ác tính.
Nữ giới thường xuyên mặc áo ngực liên tục
Một số chị em phụ nữ có thói quen mặc áo ngực liên tục mà không biết rằng, mặc áo ngực liên tục có thể gây nghẽn tắc sự lưu thông của các tuyến bạch huyết dưới cánh tay, không giải phóng mà ứ lại ở các mô của tuyến vú. Chính vì vậy, nữ giới có thói quen này phải đối diện với nguy cơ mắc ung thư vú cao gấp hơn 120 lần so với những người khác.
Người thừa cân, béo phì
Phụ nữ béo phì có nguy cơ đối mặt với ung thư vú là do một số loại hormone, Estrogen, insulin chi phối đến trọng lượng cơ thể đã kích thích các tế bào ác tính phát triển. Và thường thì estrogen trong cơ thể nữ giới béo phì sẽ tăng cao, khiến việc điều trị ung thư vú bằng hormone gặp trở ngại.
Phơi nhiễm phóng xạ
Dù hiện tại lượng phơi nhiễm từ tia X còn rất thấp nhưng cũng cần hạn chế tiếp xúc với môi trường phóng xạ để tránh nguy cơ mắc bệnh.
Thường xuyên phải làm việc về đêm
Theo 1 số nghiên cứu cho thấy, nguy cơ mắc ung thư vú lên đến 40% ở những người thường xuyên làm việc về đêm. Đối với những chị em phải làm việc liên tục vào ban đêm trong vòng >5 năm, và có ít nhất làm việc 3 đêm một tuần có nguy cơ mắc ung thư vú cao gấp đôi so với những người chỉ làm việc ít hơn 2 đêm/tuần.
Các yếu tố khác
Phụ nữ có tiền sử mắc các bệnh liên quan đến vú như xơ nang tuyến vú, bướu sợi, bướu nhân tuyến vú, thay đổi sợi bọc tuyến vú… có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Ngoài ra những phụ nữ sinh con muộn hoặc không cho con vú cũng có thể tăng nguy cơ mắc bệnh này.
Triệu chứng của bệnh ung thư vú
Ung thư vú là căn bệnh có diễn tiến thầm lặng, nên có thể trong một khoảng thời gian mặc dù khối u đã hình thành nhưng không có triệu chứng. Khi bệnh phát triển các triệu chứng, dấu hiệu bệnh có thể gặp là:
Đau hoặc khó chịu ở ngực hoặc vú
Là triệu chứng khá thường gặp, bởi đau tức ngực, căng bầu vú có thể xuất hiện khi có thay đổi nội tiết như mang thai, sắp đến ngày đèn đỏ hay trong những ngày rụng trứng… Tuy nhiên, nếu các cơn đau xuất hiện thường xuyên, dù kéo dài trong một khoảng thời gian ngắn, giống như một luồng điện nhẹ chạy qua thì nên đi thăm khám sớm để tầm soát ung thư vú.
Thay đổi về hình dạng, kích thước vú
Nếu cảm thấy vú to lên bất thường, 2 bên vú kích thước không tương xứng, thường xuyên cảm thấy cương cứng thì hãy cẩn thận.
Núm vú tụt vào trong, vùng da quanh đầu núm vú khác lạ
Có một số người bình thường có núm vú tụt vào trong bẩm sinh. Tuy nhiên, nếu núm vú bình thường đột nhiên bị tụt hẳn vào trong, cứng và không kéo ra được như bình thường được, vùng da bị nhăn nheo xuất hiện các hạt lấm tấm ở quầng vú xung quanh núm vú, chảy dịch bất thường ở núm vú… Vùng da xung quanh núm vú có thể có vảy, bong tróc hoặc thay đổi sắc tố xung quanh núm vú (quầng vú).
Sờ thấy u cục
Giai đoạn đầu ung thư vú không có biểu hiện gì đặc biệt, có thể tình cờ phát hiện khi sờ nắn hoặc tự thăm khám vú. Cách thăm khám rất đơn giản, chỉ cần đứng trước gương, giơ tay trái lên cao rồi dùng tay phải sờ nắn ngực trái lần lượt xem có u cục hay đau gì không, sau đó làm ngược lại với bên phải.
Nổi hạch nách
Hạch nách sưng to có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nó cũng có thể là dấu hiệu đầu tiên của bệnh ung thư vú. Hiện nay, có khá nhiều trường hợp mắc ung thư vú được chẩn đoán khi tình cờ phát hiện hạch hố nách.
Vú có dấu hiệu bị sưng, đỏ và ngứa
Vùng da xung quanh ngực gần núm vú bị đỏ, hoặc nổi mẩn đỏ kèm theo ngứa, đây có thể là triệu chứng của bệnh ung thư vú viêm hoặc đã thâm nhiễm ra ngoài da.
Đau lưng, vai, gáy
Ngoài đau nhức và sờ thấy khối u ở ngực, một số người mắc ung thư vú cảm thấy đau ở lưng hay vai chứ không phải ở ngực hoặc vú. Cơn đau này thường xảy ra ở phần lưng ngực hoặc giữa hai bên bả vai.
Các phương pháp tiếp cận chẩn đoán ung thư vú
Khoa học kĩ thuật phát triển nhưng cũng cần sự phối hợp của nhiều phương pháp mới có thể chẩn đoán ung thư vú 1 cách chính xác và toàn diện. Các phương pháp thường dùng phải kể đến như:
Xét nghiệm máu
Xét nghiệm CA15-3 là chất chỉ điểm ung thư vú. Tuy nhiên CA15-3 cần kết hợp với kết quả siêu âm, cận lâm sàng khác mới có giá trị chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân. Ngoài ra có thể làm các xét nghiệm máu khác về huyết học và sinh hóa để đánh giá toàn trạng của cơ thể, tình trạng bệnh.
Siêu âm tuyến vú
Qua siêu âm có thể thấy các hình ảnh bất thường trong vú như các bướu sợi tuyến, các nang, các u, sự thay đổi sợi bọc tuyến vú và các hạch di căn….
Chụp nhũ ảnh
Kỹ thuật chẩn đoán này sử dụng chùm tia X cường độ thấp chiếu vào các mô tuyến vú để thu lại các hình ảnh tại tuyến vú. Kết quả thấy được hình ảnh của các khối u, sự vôi hóa hay lắng đọng canxi trong ngực, các nang chứa dịch hoặc một số bất thường khác.
Chụp MRI vú
Chụp MRI vú cho kết quả khá chính xác, thấy rõ được hình ảnh, tính chất khối u, mức độ xâm lấn ra các cơ quan lân cận của khối u.
Sinh thiết tế bào
Nếu phát hiện khối u ở vú, các bác sĩ có thể lấy mẫu mô hoặc tế bào của khối u này để thực hiện xét nghiệm. Có 4 phương pháp sinh thiết, bao gồm:
Sinh thiết cắt bỏ: loại bỏ toàn bộ khối u.
Sinh thiết lấy một phần khối u: lấy một mẫu của khối u hoặc mô để kiểm tra.
Sinh thiết chích mô tế bào bằng kim lớn: lấy mô bằng cách dùng kim lớn.
Sinh thiết chọc hút tế bào bằng kim nhỏ: lấy mô bằng cách dùng kim nhỏ.
Ngoài ra có thể làm thêm cận lâm sàng khác như chụp PET-CT để chẩn đoán ung thư vú.
Đánh giá giai đoạn bệnh ung thư vú
Không giống các loại ung thư khác, ung thư vú là một bệnh hoàn toàn có thể chữa được nếu được phát hiện sớm, khoảng 80% bệnh nhân được chữa khỏi hoàn toàn nếu phát hiện bệnh ở những giai đoạn đầu.
Giai đoạn 0 (Giai đoạn đầu)
Ở giai đoạn đầu này, các tế bào ung thư vú được phát hiện ra trong các ống dẫn sữa, thường được gọi là ung thư biểu mô tuyến vú tại chỗ. Tùy từng bệnh nhân mà giai đoạn này có thể xuất hiện các biểu hiện khác lạ tại vú hoặc không. Đa phần phát hiện khi tình cờ đi siêu âm, chụp nhũ ảnh tầm soát ung thư vú.
Giai đoạn 1
Các khối u thường có kích thước < 2cm, chưa di căn hay xâm lấn hạch bạch huyết vùng nách. Giai đoạn này bệnh nhân có thể sờ thấy khối u khi tự khám vú, và có thể thấy các biểu hiện đau tức vùng ngực.
Giai đoạn 2
Giai đoạn này các khối u vú phát triển, thường có kích thước từ 2-5cm và chia làm 2 giai đoạn:
– Giai đoạn 2A: Các tế bào ung thư phát triển nhưng chưa lan tới các hạch bạch huyết. Kích thước khối u từ 2-4cm và chưa lan tới hạch bạch huyết và hạch dưới cánh tay
– Giai đoạn 2B: Khối u có kích thước từ 2 – 4cm và đã lan đến hạch bạch huyết, từ 1-3 hạch bạch huyết ở nách hoặc gần xương ức. Hoặc, kích thước khối u lớn hơn 5cm và chưa xâm lấn đến các hạch bạch huyết.
Giai đoạn 3
Giai đoạn này các tế bào ung thư vú đã phát triển và lan rộng >6 hạch hạch huyết ở nách.
– Giai đoạn 3A: Khối u có đường kính từ 2 đến 5 cm. Đã có di căn hạch nách cùng bên hoặc có di căn hạch vú cùng bên nhưng không có hạch nách. Hay khối u có đường kính lớn nhất > 5cm, di căn hạch nách cùng bên và di động.
– Giai đoạn 3B: U vú xâm lấn trực tiếp tới thành ngực hoặc da, di căn hạch nách cùng bên, di động. Sau đó có thể xuất hiện di căn hạch nách cùng bên dính liền nhau, hạch dính liền với các khu vực xung quanh. Hay đã xuất hiện di căn hạch vú cùng bên nhưng không có bị di căn hạch nách.
Giai đoạn 4
Giai đoạn này là giai đoạn cuối, ung thư vú đã lan rộng và di căn xa tới nhiều cơ quan trong cơ thể. Có thể di căn tới các cơ quan xa như não, xương, gan, phổi. Giai đoạn cuối nên việc điều trị rất khó khăn và tiên lượng thường không khả quan.
Điều trị ung thư vú
Ung thư vú là một trong những bệnh ung thư có nhiều phương pháp điều trị nhất. Các phương pháp này thường được cân nhắc kỹ, có thể phối hợp nhiều phương pháp với nhau điều trị trên một bệnh nhân tùy theo giai đoạn bệnh, đặc tính của khối u, thể trạng cơ thể… và cả mong muốn của người bệnh. Các phương pháp điều trị ung thư bao gồm:
Phẫu thuật
Phương pháp phẫu thuật phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến kích thước, vị trí của khối u, số lượng và sự lây lan của các hạch bạch huyết. Các phương pháp phẫu thuật thường được chỉ định bao gồm:
Phẫu thuật bảo tồn tuyến vú: Là phẫu thuật cắt bỏ khối u ở tuyến vú và một lượng nhỏ mô tuyến vú xung quanh hoặc bác sĩ sẽ cắt bỏ một phần tư vú nơi phát hiện có khối ung thư trong đó.
Phẫu thuật triệt căn: Là phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tuyến vú và trong quá trình phẫu thuật một số hạch bạch huyết nằm dưới nách cũng có thể được nạo vét và cắt bỏ để làm giải phẫu bệnh.
Phẫu thuật tạo hình tuyến vú: Hiện tại có một số lựa chọn để tái tạo hình dáng bên vú đã phẫu thuật, bao gồm đặt túi ngực, tái tạo tuyến vú bằng vạt da tự thân, phẫu thuật tạo hình quầng vú và núm vú.
Xạ trị
Xạ trị là phương pháp sử dụng các chùm tia năng lượng cao như tia X và proton để diệt các tế bào ung thư. Sau khi bệnh nhân được cắt bỏ tuyến vú thì sẽ dùng các chùm tia này để chiếu xạ bên ngoài nhằm đảm bảo rằng các tế bào ung thư đã được tiêu diệt hết.
Hóa trị
Hóa trị liệu được sử dụng ngay sau phẫu thuật cắt bỏ khối ung thư vú nhằm mục đích giảm nguy cơ tái phát giúp điều trị triệt căn khối ung thư vú. Nếu khối u vú quá lớn hoặc hạch nách dính không thể phẫu thuật, việc điều trị bằng hóa chất trước sẽ giúp làm giảm kích thước khối u từ đó tạo thuận lợi cho phẫu thuật cắt bỏ. Ngoài ra, nếu ung thư vú đã di căn điều trị hóa chất toàn thân giúp làm chậm quá trình tiến triển của bệnh và cải thiện triệu chứng. Tuy nhiên, tác dụng phụ của hóa trị rất nhiều.
Liệu pháp nhắm trúng đích
Ở một số bệnh nhân ung thư vú có bộc lộ thụ thể HER2, có thể điều trị phối hợp giữa hóa chất với thuốc điều trị đích. Các thuốc nhắm đích được sử dụng hiện nay là trastuzumab, pertuzumab, lapatinib và TDM-1. Tuy nhiên, giá thành và chi phí sử dụng còn khá cao để sử dụng rộng rãi, kèm theo đó không phải bệnh nhân nào cũng cần điều trị đích.
Sử dụng thuốc Y học cổ truyền
Theo y học cổ truyền, ung thư vú được mô tả trong chứng nhũ ung, nhũ nham. Nguyên nhân chủ yếu do sự tổn thương tạng phế, can, 2 mạch xung, nhâm. Điều trị ung thư vú theo y học cổ truyền giúp điều trị từ gốc bệnh, pháp điều trị là thanh nhiệt, giải uất, nhuyễn kiên tán kết.
Nhà thuốc Đông y Thọ Xuân Đường là cơ sở chữa bệnh bằng Nam y uy tín, đã và đang điều trị cho rất nhiều bệnh nhân ung thư vú cho kết quả tốt. Tại nhà thuốc, người bệnh được thăm khám và điều trị bệnh dựa trên ứng dụng phương pháp châm cứu Thần Châm và phương Kỳ Môn Y Pháp để điều động thu hút năng lượng, nhằm tập trung loại bỏ khối u, tổ chức ung thư ở mọi nơi trên cơ thể.
Việc kết hợp sử dụng đông tây y để điều trị bệnh ung thư vú sẽ đem lại hiệu quả cao cho người bệnh. Ngoài ra, bệnh nhân cần lạc quan, tin tưởng vào thầy thuốc và giữ cho tinh thần luôn thư giãn, thoải mái chính là liệu pháp điều trị hiệu quả nhất.
BS. Thu Thủy
Để được tư vấn về các vấn đề sức khỏe vui lòng liên hệ
NHÀ THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN THỌ XUÂN ĐƯỜNG Số 5 – 7 Khu tập thể Thủy sản, Ngõ 1 Lê Văn Thiêm, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội.
Hotline: 0943986986 – 0937638282


