Đóng

Dinh dưỡng và lối sống

Ngăn ngừa ung thư miệng bằng các thực phẩm tự nhiên

Ung thư miệng là bệnh ung thư bắt nguồn từ miệng, thuộc một phân nhóm của ung thư đầu và cổ, là một trong những bệnh ác tính phổ biến nhất trên toàn cầu và có xu hướng ngày càng gia tăng. Người ta ước tính rằng, từ năm 2018 đến năm 2040, số lượng người bị ung thư môi và miệng sẽ tăng từ 354.864 lên 545.396, trong đó số người tử vong vì bệnh này sẽ tăng từ 177.384 lên 275.164.

Trong đó các loại ung thư miệng, thường gặp nhất là ung thư biểu mô tế bào vảy ở miệng (Oral squamous cell carcinoma – OSCC), chiếm hơn 90% tất cả các bệnh ung thư miệng và 38% các khối u ở vùng đầu – cổ. OSCC biểu hiện sự biệt hóa vảy đặc trưng bởi sự hình thành của keratin hoặc sự hiện diện của các cầu nối gian bào. Về mặt giải phẫu, khoang miệng bao gồm một số vùng phụ như: môi, hai phần ba phía trước của lưỡi và khoang miệng, sàn miệng, niêm mạc miệng, hai lợi, tam giác sau hàm và vòm miệng (hoặc khẩu cái cứng). OSCC thường được quan sát thấy ở ba phần phụ chính: lưỡi, niêm mạc hai bên và môi.

Các yếu tố nguy cơ của ung thư miệng

Hút thuốc lá

Cơ quan nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) đã phân loại hút thuốc lá là yếu tố gây ung thư hàng đầu trong khoang miệng, bao gồm cả thuốc lá không khói. Những người hút thuốc có nguy cơ phát triển ung thư miệng cao hơn từ hai đến năm lần so với những người không hút và trong tổng số ca ung thư miệng, có tới 75% bệnh nhân thường xuyên hút thuốc lá.

Khói thuốc lá chứa ít nhất 70 chất gây ung thư, điển hình như nicotin, hydro xyanua, formaldehyde, kim loại nặng (chì, asen), amoniac, các nguyên tố phóng xạ (uranium), phenol, benzen, carbon monoxide, nitrosamine và hydrocacbon thơm đa vòng (PAH). Trong đó, quan trọng nhất là các nitrosamine dành riêng cho thuốc lá (TSNA), và các hydrocacbon thơm đa vòng (PAH).

Các TSNA như N’-nitrosonornicotine (NNN) và 4- (methylnitrosamino) -1- (3-pyridyl) -1-butanone (NNK), tham gia vào quá trình hoạt hóa trao đổi chất của NNK và NNN, gây ra các đột biến có hại trong gen sinh ung thư và gen ức chế khối u, bằng cách hình thành các sản phẩm bổ sung ADN liên kết cộng hóa trị, khởi đầu của quá trình sinh ung thư. Chất gây ung thư benzo [a] pyrene (BaP) là một hydrocacbon thơm đa vòng nguyên mẫu được nghiên cứu kỹ lưỡng nhất, nó là thành phần chính của khói thuốc lá. Các enzym cytochrom P450 của gan có thể chuyển hóa BaP và kích hoạt nó thành chất chuyển hóa hoặc chất trung gian phản ứng gây ung thư. Các chất này có thể liên kết với ADN và cản trở quá trình sao chép ADN, gây độc tế bào, gây quái thai, độc tính trên gen và miễn dịch, gây đột biến và sinh ung thư.

Rượu bia

Rượu bia cũng là một trong những yếu tố quan trọng với sự phát triển của ung thư miệng. Rượu có thể gây ra những thay đổi cục bộ làm tăng nguy cơ ung thư miệng, bao gồm:

(1) thay đổi hình thái của niêm mạc miệng, do đó làm tăng tính thấm;

(2) hòa tan thành phần lipid của biểu mô, do đó làm giảm độ dày và gây teo;

(3) phá hủy quá trình tổng hợp và sửa chữa ADN thông qua chất chuyển hóa là acetaldehyde. Chất này có khả năng can thiệp vào các enzyme chịu trách nhiệm sửa chữa ADN bằng cách liên kết với protein;

(4) phá hủy chức năng tuyến nước bọt dẫn đến làm giảm tỷ lệ thanh thải chất gây ung thư cục bộ.

Thói quen nhai trầu cau

Nhai trầu cau là một tục lệ từ lâu đời, phổ biến của nhiều nơi ở châu Á, trong đó có Việt Nam. Nhưng thật không may, Cơ quan nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) tiết lộ rằng hạt cau không chỉ là có tác dụng kích thích tâm thần, gây nghiện mà còn có chứa một số chất được xếp vào nhóm chất gây ung thư nhóm I ở người. Ví dụ, một số alkaloid trong hạt cau như arecoline và arecaidine là những chất gây độc chính trong hạt cau, có khả năng gây đột biến, tạo ra sự đứt gãy sợi ADN, sai lệch nhiễm sắc thể, thay đổi nhiễm sắc tử chị em và hình thành vi nhân trong tế bào động vật có vú. Hơn nữa, arecoline cũng có thể tạo thành các chất nitrosamine đặc trưng cho hạt cau thông qua phản ứng nitro hóa trong miệng và đường tiêu hóa người, do đó gây ra sự tăng sinh các tế bào bất thường và ung thư hóa.

Các polyphenol chứa trong hạt cau có tác dụng ngăn ngừa và chống ung thư do khả năng chống oxy hóa, ngăn chặn stress oxy hóa. Nhưng một loạt các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các polyphenol có thể là một chất gây ung thư vì chúng tạo ra ROS (ví dụ: HO) và tiếp tục hình thành 8-OH-dG khi trộn với vôi để tạo thành các chất kiềm trong môi trường miệng (pH ≥ 9,5) gây phá hủy ADN. Mặc dù bản thân vôi không gây đột biến, nhưng sự tương tác giữa polyphenol và vôi là yếu tố quyết định chính của việc tạo ROS. Hơn nữa, ROS có thể tấn công các protein nước bọt và niêm mạc miệng, gây ra những thay đổi trong cấu trúc của niêm mạc miệng và hỗ trợ xâm nhập của các chất độc hại khác.

Virus HPV (Human Papillomavirus)

Hiện nay, có hơn 200 type virus gây u nhú (HPV) khác nhau đã được phân lập từ người, phổ biến nhất là HPV-16 được IARC phân loại vào nhóm có nguy cơ cao gây ung thư miệng và họng. Loại phụ HPV-18 ít phổ biến hơn cũng được xếp vào nhóm có nguy cơ gây ung thư miệng. Nhiều bằng chứng chỉ ra rằng HPV làm tăng cường tác động gây đột biến thông qua hai oncoprotein mã hóa chính của virus là E6 và E7. Các protein này điều chỉnh chu kỳ tế bào, quá trình apoptosis và các con đường truyền tín hiệu ổn định di truyền bằng cách tăng đột biến gen ức chế khối u p53 và RB1 và ​​sự phân hủy các sản phẩm của chúng, có thể gây ra các tổn thương ở tế bào biểu mô miệng của người.

Thiếu hụt dinh dưỡng và các yếu tố khác

Chế độ ăn uống không đủ rau và trái cây dẫn đến thiếu hụt chất dinh dưỡng và khoáng chất (ví dụ, carotenoid, vitamin chống oxy hóa, phenol, terpenoit, steroid, indol và chất xơ…), có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Những thực phẩm này có chứa các hợp chất hoạt tính sinh học bảo vệ được gọi là chất phytochemical. Việc thiếu các chất phytochemical được cho là góp phần vào sự phát triển của các bệnh răng miệng.

Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng được chứng minh làm tăng nguy cơ ung thư miệng như hệ miễn dịch bị suy yếu (do khiếm khuyết bẩm sinh trong hệ thống miễn dịch hoặc những người ghép tạng được chỉ định thuốc ức chế miễn dịch…), các chất ô nhiễm môi trường (các kim loại nặng như asen, crom, niken…), phơi nhiễm nghề nghiệp (ví dụ tiếp xúc nhiều bức xạ tia cực tím), vi sinh vật (vi khuẩn, virus), và các bệnh di truyền (ví dụ, thiếu máu Fanconi, rối loạn sừng hóa bẩm sinh và hội chứng Bloom…).

Ngăn ngừa ung thư miệng bằng các thực phẩm tự nhiên

Bằng chứng dịch tễ học về dinh dưỡng đã chỉ ra rằng, việc sử dụng thường xuyên các một số thực phẩm tự nhiên như trái cây và rau củ giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư và giảm thiểu tỷ lệ tử vong do ung thư, trong đó có ung thư miệng. Ví dụ:

Quả mâm xôi đen

Quả mâm xôi đen rất giàu vitamin, khoáng chất, chất xơ, anthocyanins, các thành phần phenolic và các thành phần hoạt tính sinh học khác có khả năng ức chế ung thư. Chiết xuất quả mâm xôi đen được chứng minh là giúp tăng cường loại bỏ các tổn thương ADN do DBP-diol, một chất chuyển hóa chính của chất gây ung thư trong khói thuốc lá, dibenzo-[a,l]-pyrene (DBP). Ngoài ra, chiết xuất quả mâm xôi đen có thể ức chế quá trình sinh ung thư miệng bằng cách điều chỉnh các con đường tiền viêm, sự chết theo chu trình của tế bào và các con đường protein kinase hoạt hóa AMP. Một số chế phẩm dạng gel hoặc bột chứa mâm xôi đen được áp dụng điều trị các tổn thương tiền ác tính ở miệng trong 3 tháng cho thấy làm giảm đáng kể kích thước tổn thương, mất tính dị hợp tử tại các ổ gen ức chế khối u.

Trà xanh

Trà xanh chứa nhiều flavonoid và các polyphenol có tác dụng chống oxy hóa, giúp bảo vệ chống lại bệnh ung thư, trong đó có ung thư miệng. Việc bổ sung bằng đường uống chiết xuất trà xanh được chứng minh là có tác dụng ức chế tổn thương tiền ung thư ở khoang miệng.

Ba thành phần trong trà xanh gồm EGC, EGCG, EGFR là các polyphenol chính, có khả năng ức chế đáng kể sự phát triển của tế bào ung thư theo cách phụ thuộc vào liều lượng. Trong đó, EGCG được xem là thành phần quan trọng nhất, thể hiện hoạt tính ức chế mạnh mẽ sự phát triển của các dòng tế bào ung thư khác nhau, bao gồm cả ung thư miệng và ung thư đường tiêu hóa thông ức chế cả sự tăng sinh tế bào và di chuyển của các tế bào ung thư miệng, gây ra quá trình chết tế bào và bắt giữ chu kỳ tế bào, điều chỉnh các yếu tố phiên mã (NF-κB và AP-1) trong các dòng tế bào ung thư biểu mô tế bào vảy ở miệng.

Trong các mô hình động vật bị ung thư miệng, các polyphenol trong trà có tác dụng làm giảm stress oxy hóa và các enzym pha I (gồm cytochrom b5, cytochrom P450, cytochrom b5 reductase, cytochrom P450 reductase, aryl hydroxylase hydroxylase và DT-diaphorase) và cảm ứng enzyme pha II (gồm glutathione-S- transferase và UDP glucuronyl transferase). Trong các thử nghiệm lâm sàng, uống chiết xuất trà làm giảm kích thước tổn thương ở bệnh nhân bạch sản. Uống chiết xuất trà làm giảm biểu hiện VEGF mô đệm và cyclin D1 ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bị tổn thương tiền ác tính ở miệng. Theo các chuyên gia, uống hơn 10 tách trà xanh mỗi ngày giúp giảm nguy cơ và trì hoãn sự khởi phát của bệnh ung thư so với những người uống ít hơn 3 tách mỗi ngày. Ngoài ra, những người hút thuốc dùng chiết xuất trà xanh (2000–2500 mg/ngày) trong 4 tuần giúp làm giảm tổn thương ADN của tế bào sừng ở miệng.

Các loại rau thuộc họ Allium

Việc tăng cường tiêu thụ các loại rau thuộc họ Allium như hành, tỏi, hành tây có thể làm giảm nguy cơ ung thư. Trong tỏi có thành phần S-allylcysteine được báo cáo là có hiệu quả trong việc ức chế sự tăng sinh tế bào ở các dòng tế bào ung thư miệng người và trong mô hình khối u xenograft của chuột. Ngoài ra, việc tiêu thụ tỏi với lượng 20 g/ngày còn làm giảm nguy cơ ung thư dạ dày và đại trực tràng.

Thực phẩm giàu lycopen

Lycopene là một carotenoid hòa tan trong chất béo, chứa trong nhiều loại thực phẩm như cà chua, mơ, nam việt quất, nho, bưởi hồng, ổi, đu đủ, đào, dưa hấu…. Lycopene có khả năng chống oxy hóa mạnh, là chất tạo màu tự nhiên an toàn. Lycopene đóng một vai trò đa chức năng trong điều trị các bệnh răng miệng, chẳng hạn như bạch sản, xơ hóa dưới niêm mạc miệng, liken phẳng và ung thư biểu mô tế bào vảy ở miệng.

Lycopene có khả năng ức chế mạnh mẽ theo cách phụ thuộc vào liều lượng đối với sự tăng sinh của các tế bào khối u miệng, ức chế ung thư miệng bằng cách điều chỉnh quá trình peroxy hóa lipid và tăng cường hoạt động của các enzym trong chu trình oxy hóa khử glutathione trong mô hình ung thư miệng do DMBA gây ra.

Dứa

Dứa chứa bromelain là một cysteine ​​protease có hoạt tính chống viêm và chống ung thư đã được công nhận. Điều trị bằng bromelain được chứng minh là có thể ức chế sự phát triển và tăng sinh của tế bào và gây ra quá trình chết rụng ở các dòng tế bào ung thư biểu mô vảy ở miệng Ca9-22 và SCC25 ở người thông qua các con đường khác nhau và bắt giữ chu kỳ tế bào G1. Bromelain có xu hướng hoạt động như một loại enzym tiêu hóa và tác dụng điều trị của nó có thể bị giảm đi nếu dùng chung với thức ăn.

DS. Lê Hằng

Để được tư vấn về các vấn đề sức khỏe vui lòng liên hệ
NHÀ THUỐC ĐÔNG Y GIA TRUYỀN THỌ XUÂN ĐƯỜNG
Số 5 – 7 Khu tập thể Thủy sản, Ngõ 1 Lê Văn Thiêm, Nhân Chính, Thanh Xuân, Hà Nội.
Hotline: 0943986986 – 0937638282.