Các yếu tố nguy cơ của bệnh ung thư
Ung thư là kết quả của sự tác động phức hợp giữa các yếu tố di truyền, môi trường và lối sống. Những tổn thương gen tích lũy theo thời gian khiến tế bào mất khả năng kiểm soát sinh trưởng, dẫn đến hình thành khối u ác tính. Hút thuốc, uống rượu, chế độ ăn uống không lành mạnh và tiếp xúc lâu dài với các yếu tố độc hại trong môi trường là những nguyên nhân hàng đầu làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh. Dù khoa học chưa lý giải hết mọi cơ chế, song việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ đã được chứng minh là biện pháp hữu hiệu nhất trong phòng ngừa ung thư hiện nay.
Tổng quan về các yếu tố gây ung thư
Ung thư dường như phát sinh từ những tác động của hai nhóm tác nhân gây ung thư khác nhau:
– Nhóm thứ nhất bao gồm các tác nhân gây tổn thương các gen tham gia vào quá trình kiểm soát sự sinh sản và di chuyển của tế bào. Ung thư nảy sinh khi một tế bào tích lũy một loạt các biến dị, thường là trong nhiều năm và cuối cùng thoát ra khỏi phần lớn các yếu tố kiểm soát sinh sản. Những biến dị này cho phép tế bào cũng như các thế hệ con cháu nó phát triển những biến dị thêm đó và tích lũy càng ngày càng nhiều để rồi tạo thành một khối u có chứa chủ yếu các tế bào bất thường.
– Nhóm thứ hai bao gồm các tác nhân không gây tổn thương gen mà thay vào đó là thúc đẩy một cách có lựa chọn sự tăng trưởng của các tế bào u hoặc các tiền thân của chúng. Mối nguy hiểm đầu tiên của các khối u ác tính là chúng có thể di căn, nghĩa là để một vài tế bào u di chuyển và do đó chúng mang theo mầm bệnh ung thư tới các phần khác của cơ thể. Cuối cùng bệnh có thể lan tới và làm rối loạn một trong số các cơ quan trọng yếu của cơ thể.
Mức độ tiếp xúc như thế nào là đủ để gây những hư hại tế bào và dẫn tới ung thư vẫn chưa được lý giải. Một giả thuyết tồn tại từ lâu cho rằng nhiều yếu tố gây stress trong môi trường cùng với tuổi tác và các quá trình sống khác đóng vai trò thúc đẩy sự sản sinh của các phần phân tử là gốc tự do trong cơ thể. Bằng cách phản ứng với DNA của gen, những phần tách rời này có thể gây hư hại và gây đột biến gen thường xuyên.
Các tác nhân gây ung thư khác, ví dụ như một số loại virus, lại có vẻ tác động theo kiểu khác, bằng cách đẩy nhanh tốc độ phân chia tế bào.
Những gen mà con cái thừa hưởng từ bố mẹ cũng ảnh hưởng tới sự phát triển bệnh ung thư. Một số người được sinh ra với những biến dị trực tiếp loại thúc đẩy sự tăng trưởng quá mức của một số tế bào nhất định hoặc sự hình thành nhiều biến dị nữa. Tuy nhiên, quá trình tiến hóa cho thấy những đột biến như vậy là hiếm và chúng có tham dự vào sự phát triển của dưới 5% các trường hợp ung thư gây chết người.
Mặt khác, khác với tác dụng không nhiều của các biến dị xảy ra trong các gen kiểm soát sự tăng trưởng của tế bào thì các đặc điểm sinh lý được thừa hưởng lại góp phần gây ra phần lớn các loại ung thư. Ví dụ, màu da trắng thừa hưởng được lại khiến người ta dễ bị ung thư da. Tuy nhiên, mặc dù những người da trắng dễ mắc ung thư da nhưng bệnh chỉ phát triển sau khi người đó thường xuyên phơi trần ra ánh nắng mặt trời. Một người nghiện thuốc nặng có thể không mắc ung thư phổi, một người mang virus viêm gan B lâu ngày có thể không mắc ung thư gan và rất nhiều người cao tuổi khỏe mạnh đã sống rất lâu mặc dù thức ăn của rất tồi tệ. Đối với nhiều yếu tố được đề cập trong bài viết này như bức xạ ion hóa hoặc một vài yếu tố liên quan đến nghề nghiệp, chỉ có những tiếp xúc đáng kế (hoặc mang các gen đột biến) mới thực sự gây nguy cơ nghiêm trọng cho một người. Cần có sự tương tác của nhiều yếu tố để ung thư có thể xuất hiện.
Hiện tại, với trình độ khoa học chưa thể giải thích được tại sao những tương tác giữa các tác nhân gây ung thư tiềm ẩn có thể gây bệnh. Hy vọng với những nghiên cứu trong tương lai sẽ khám phá ra mối liên kết quan trọng này và đưa ra cho chúng ta một bức tranh hoàn chỉnh về cách làm thế nào để ngăn chặn chúng.
Thuốc lá và các nguy cơ ung thư
Ung thư phổi: hút thuốc là nguyên nhân chính gây ung thư phổi. Thuốc lá gây gần 90% trong tổng số ca tử vong do ung thư phổi. Giả định nguy cơ ở những người không hút thuốc lá bị ung thư phổi là 1, thì nguy cơ bị ung thư phổi ở nhóm người hút thuốc cao hơn gấp 10 lần so với nhóm người không hút thuốc. Mức độ nguy cơ sẽ tăng lên cùng với thời gian, số năm hút thuốc và số lượng thuốc lá tiêu thụ hàng ngày. Tuổi bắt đầu hút thuốc càng sớm thì càng nguy hiểm.
Mức độ tăng nguy cơ khác nhau tuỳ thuộc theo loại tế bào ung thư. Những người không hút thuốc mà kết hôn với người hút thuốc, tỷ lệ chết vì ung thư phổi cao hơn 20% so với người kết hôn với người không hút thuốc và tỷ lệ chết vì ung thư phổi cũng tăng lên cùng với số lượng thuốc được hút bởi người vợ hoặc người chồng.
Khói thuốc lá
Tác hại gây bệnh của hút thuốc đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu. Hút thuốc đại diện cho hầu hết các nguyên nhân chính gây các bệnh đã từng được phát hiện trong lịch sử của nghiên cứu ngành y sinh học. Một nửa trong số những người thường xuyên hút thuốc, cuối cùng sẽ bị chết do thói quen hút thuốc của họ. Hút 1 điếu thuốc tức là đã tự làm mất đi 5,5 phút cuộc sống của chính mình. Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so với người không hút thuốc từ 5-7 năm. Hơn nữa, bố mẹ hút thuốc có thể gây hại tới cả thai nhi và những trẻ đang sống trong gia đình họ.
Các thành phần gây hại trong thuốc lá. Trong khói thuốc lá chứa hơn 4.000 loại hóa chất. Trong đó có hơn 200 loại hóa chất có hại cho sức khỏe con người, bao gồm chất gây nghiện và các chất gây độc. Nhựa thuốc lá (Tar): là tập hợp hàng ngàn chất hóa học và phụ gia, được tạo thành chất lắng lại của khói thuốc, có đặc điểm dính và dày. Nhựa thuốc lá là một trong những chất nguy hiểm nhất của khói thuốc lá. Khi khói thuốc được hít vào phổi, lắng đọng và tạo thành nhựa thuốc lá. Nhựa thuốc lá bám vào các khoang chứa khí của phổi. Sau một thời gian, các chỗ nhựa thuốc lá bám vào tạo thành ung thư và các bệnh lý về phổi.
Các chất hóa học và chất gây nghiện trong khói thuốc lá: có hơn 50 chất gây ung thư đã được khẳng định có trong khói thuốc. Những này bao gồm chất khí kích thích, axit hữu cơ, kim loại và các chất hóa học. 50% chất gây ung thư trong khói thuốc lá là do quá trình phân huỷ của các chất poly aromatic hidrocacbon, tobennot, phitottorol và chất phóng xạ polonium và nguyên tố kim loại phóng xạ 226.
Cacbon monoxit: cacbon monoxit là một chất khí không màu, có hàm lượng cao trong khói thuốc. Một lần hít vào, cacbon monoxit kết hợp với hemoglobin lấy đi khí oxy trong cơ thể.
Nicotin: là chất tác động mạnh và là chất gây nghiện.
Chất phụ gia: có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo và là chất dùng để làm tăng mùi vị thơm và làm tăng tính gây nghiện của nicotin trong thuốc. Số lượng chất cho vào trong thuốc rất đa dạng. Các chất phụ gia khác khi được đốt cháy trong quá trình hút thuốc sẽ có hậu quả nghiêm trọng tới sức khỏe.
Không có thuốc lá nào là an toàn: các chiến dịch khuyến mại của các công ty thuốc lá về thuốc lá có hàm lượng nicotin và nhựa thuốc lá thấp, để người tiêu dùng tin rằng nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe đã được giảm, khi thay đổi hàm lượng tar thấp hoặc đổi loại nicotin. Nhiều người hút thuốc tin rằng họ đang hít ít hơn các chất hóa học gây ung thư.
Tuy nhiên các nghiên cứu thường chỉ ra rằng những người hút thuốc không giảm nguy cơ ung thư hoặc nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe khi họ chuyển sang dùng loại thuốc lá có hàm lượng nicotin và nhựa thuốc lá thấp. Vì khi hút những loại thuốc đó, người hút thuốc sẽ hút bù, bằng cách hút lượng lớn hơn, thường xuyên hơn, hít sâu hơn. Việc hút bù sẽ tăng liều lượng nicotin và buộc phổi tiếp xúc số lượng chất độc và chất gây ung thư cao hơn.
Rượu
Khoảng 4% các ca ung thư trên toàn thế giới là do uống rượu. Uống rượu làm tăng nguy cơ mắc một số loại ung thư, bao gồm ung thư đường hô hấp tiêu hóa trên, gan, đại tràng và vú. Có một số con đường cơ học mà việc uống rượu, như ethanol, được biết là gây ung thư, mặc dù một số vẫn chưa được hiểu đầy đủ. Chất chuyển hóa acetaldehyde của ethanol có thể gây tổn thương DNA và ngăn chặn quá trình tổng hợp và sửa chữa DNA, trong khi cả ethanol và acetaldehyde đều có thể phá vỡ quá trình methyl hóa DNA. Ethanol cũng có thể gây viêm và stress oxy hóa dẫn đến peroxy hóa lipid và gây tổn thương DNA thêm nữa.
Quá trình chuyển hóa một carbon và nồng độ folate cũng bị suy yếu do ethanol. Các cơ chế đã biết khác được thảo luận. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính gây ung thư của rượu và các chất chuyển hóa của nó sẽ cung cấp thông tin cho các nghiên cứu trong tương lai, nhưng hiện tại đã cần có các chiến lược kiểm soát rượu toàn diện và phòng ngừa ung thư để giảm gánh nặng ung thư do rượu gây ra.
Uống nhiều rượu gây ra nhiều loại bệnh gan khác nhau, từ gan nhiễm mỡ, viêm gan nhiễm mỡ, xơ gan và HCC. Mặc dù uống rượu là một yếu tố nguy cơ nổi tiếng đối với sự phát triển, bệnh tật và tử vong của HCC trên toàn cầu, nhưng ung thư biểu mô tế bào gan liên quan đến rượu (A-HCC) chưa được mô tả rõ ràng so với HCC liên quan đến viêm gan do vi-rút. Hầu hết các A-HCC phát triển sau xơ gan liên quan đến rượu (AC), nhưng quá trình gây ung thư trực tiếp từ ethanol và các chất chuyển hóa của nó thành A-HCC vẫn còn chưa rõ ràng. Sự khác biệt giữa A-HCC và HCC do các nguyên nhân khác gây ra vẫn chưa được nghiên cứu kỹ về tiên lượng lâm sàng, bối cảnh di truyền hoặc biểu sinh, cơ chế phân tử và tính không đồng nhất.
Chế độ ăn uống
Trong thập kỷ qua, việc tìm kiếm các yếu tố chế độ ăn uống để làm cơ sở cho các hướng dẫn phòng ngừa ung thư đã dẫn đến sự mở rộng nhanh chóng của lĩnh vực chế độ ăn uống và ung thư. Nhiều đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp đã báo cáo mối liên hệ dịch tễ học giữa các loại ung thư cụ thể và cả chế độ ăn uống dựa trên dữ liệu được xác định bởi các phân tích thực nghiệm và các chỉ số chế độ ăn uống do nhà nghiên cứu xác định dựa trên một tập hợp các thành phần chế độ ăn uống được xác định trước.
Những phát triển mới, chẳng hạn như sử dụng nghiên cứu chuyển hóa để xác định các dấu hiệu sinh học khách quan của chế độ ăn uống và các kỹ thuật thống kê mới, có thể cung cấp thêm hiểu biết sâu sắc về mối liên hệ giữa chế độ ăn uống và nguy cơ ung thư. Mặc dù các mô hình động vật về chế độ ăn uống còn hạn chế, nhưng tiến bộ trong lĩnh vực này có thể xác định các cơ chế tiềm ẩn đằng sau các mối liên hệ cụ thể với bệnh được quan sát thấy trong các nghiên cứu dịch tễ học. Một chủ đề cơ bản nổi lên là hiệu quả của các khuyến nghị về chế độ ăn uống khác nhau trong việc giảm nguy cơ có thể phụ thuộc vào loại ung thư hoặc các yếu tố nguy cơ khác như tiền sử gia đình, giới tính, tuổi tác và các yếu tố lối sống khác hoặc bệnh đi kèm cũng như các đặc điểm chuyển hóa hoặc hồ sơ vi khuẩn đường ruột.
Yếu tố môi trường
Quá trình ung thư là kết quả của rối loạn chức năng tế bào. Điều này là do sự tích tụ của nhiều thay đổi di truyền và biểu sinh trong tế bào, thể hiện ở sự tích tụ các bất thường nhiễm sắc thể hoặc phân tử, dẫn đến mất ổn định di truyền. Thật khó để đánh giá tính hợp lệ của các yếu tố nguyên nhân riêng lẻ, nhưng có thể kết luận rằng sự tương tác của các yếu tố nguy cơ khác nhau có tác động lớn nhất đến sự phát triển của ung thư.
Các yếu tố môi trường, ngoại sinh và nội sinh cũng như các yếu tố cá nhân, bao gồm cả khuynh hướng di truyền góp phần vào sự phát triển của ung thư. Nghiên cứu dịch tễ học về sự phát triển của khối u ác tính trong nhiều năm qua đã tập trung vào các yếu tố quyết định của các yếu tố môi trường và di truyền về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do ung thư. Theo tình trạng hiểu biết hiện tại, 80-90% khối u ác tính là do các yếu tố môi trường bên ngoài (chất gây ung thư) gây ra. Các nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng các yếu tố chính chịu trách nhiệm cho sự phát triển của khối u ác tính ở người là các yếu tố môi trường phát sinh từ hành vi của con người.
Người ta đã xác nhận rằng hút thuốc, uống quá nhiều rượu, chế độ ăn uống và hành vi sinh sản là quan trọng đối với sự phát triển của khối u ác tính ở quần thể người. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2020 chúng ta có thể dự kiến khoảng 10 triệu ca tử vong, trong đó có 7-8 triệu ca ở các nước đang phát triển, trong khi con số này ở các nước phát triển sẽ không thay đổi và sẽ là 2-3 triệu ca.
BS. Nguyễn Văn Biên (Thọ Xuân Đường)


